banner

Bệnh viêm gan siêu vi B và cách phòng ngừa

Theo thống kê của Bộ Y tế, bệnh nhân mắc viêm gan siêu vi B hiện chiếm 8-25% dân số, ước tính đến năm 2020 sẽ có 8 triệu người Việt nhiễm virus viêm gan siêu vi B mãn tính. Viêm gan siêu vi B mãn tính sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như xơ gan, suy gan và ung thư gan, vì thế cần được điều trị càng sớm càng tốt.

I.   Viêm gan siêu vi B là gì?

Bệnh viêm gan siêu vi B (gọi tắt là viêm gan B) là một dạng bệnh gan do virus viêm gan siêu vi B (HBV – Hepatitis B virus) gây ra. Hiện có đến gần 1/3 dân số thế giới mắc bệnh, nhiều nhất tại các nước đang phát triển. Bệnh này khá phổ biến ở châu Phi, châu Á và vùng Thái Bình Dương. Việt Nam nằm trong vùng có tỷ lệ lây nhiễm cao 8%.


II.  Nguyên nhân gây viêm gan B

Virus viêm gan siêu vi B (HBV – Hepatitis B virus) được xác định là nguyên nhân chính gây bệnh viêm gan B. HBV là một virus thuộc họ Hepadnaviridae. Xét về mặt cấu tạo của virus viêm gan B, bộ gene (genome) của virus này không hoàn toàn là sợi đôi DNA, nó bao gồm một sợi ngắn và một sợi dài, gene này chứa 3200 nucleotide cũng vì vậy mà chúng được biết đến là virus DNA nhỏ nhất. 

Loại virus này có thể sống được 30 phút ở nhiệt độ 100 độ C; ở nhiệt độ -20 độ C có thể sống 20 năm. 


Về cơ chế bệnh sinh, bản thân virus HBV không trực tiếp làm tổn thương tế bào gan mà do hệ thống miễn dịch của cơ thể (tại gan là tế bào Kupffer - vốn được biết đến như một loại đại thực bào nằm trong xoang gan - nơi dẫn máu ra, vào gan, là tế bào đầu tiên ở gan tiếp xúc với các vi khuẩn, độc tố, tạo phản ứng miễn dịch) sẽ nhận diện các tế bào gan đã bị nhiễm, sau đó Kupffer sẽ sản sinh nhiều chất gây viêm như Leukotriene, Interleukin, TNF-α, TGF-β …. tấn công phá hủy tế bào này, gây tổn thương gan. Quá trình này diễn ra liên tục và trong thời gian dài sẽ dẫn đến viêm gan B mãn tính.

III.   Viêm gan siêu vi B lây lan như thế nào?

HBV là loại virus có khả năng lây truyền chủ yếu qua đường máu, quan hệ tình dục và mẹ truyền sang con. Khả năng lây lan của HBV hơn gấp 100 lần so với virus HIV.

Do đó, chỉ cần một xây xát nhỏ làm trầy da nếu khi đó tiếp xúc với máu người nhiễm virus (kim tiêm, kim châm cứu, dụng cụ y tế, dao cạo râu, cắt móng tay, bàn chải đánh răng...) cũng đã mở đường cho mầm bệnh đi vào cơ thể.

IV.   Dấu hiệu của viêm gan siêu vi B

Viêm gan siêu vi B có nhiều triệu chứng khác nhau, tùy theo tình trạng và giai đoạn bệnh. 

Giai đoạn cấp tính: 

Thời gian ủ bệnh từ 1-6 tháng.

Các triệu chứng sẽ tương tự như cảm cúm: thỉnh thoảng có cảm giác buồn nôn, sụt cân, ăn không ngon miệng, ngứa. Có thể nặng hơn với triệu chứng sốt, vàng da, vàng mắt, vàng móng, đau bụng, đau khớp, đau cơ, nước tiểu có màu vàng sậm.


Giai đoạn mãn tính: 

Đa phần bệnh nhân thấy hoàn toàn bình thường. Một số có biểu hiện tương tự viêm gan B cấp như mệt mỏi, chán ăn thoáng qua, nhưng cuối cùng lại có nguy cơ dẫn đến những bệnh lý gan nguy hiểm như xơ gan, thậm chí ung thư gan.

V.    Biến chứng của viêm gan siêu vi B

Virus HBV có thể tồn tại trong cơ thể người bệnh suốt đời. Người bị nhiễm siêu vi viêm gan B mãn tính vẫn có thể sống lâu và khỏe mạnh, giảm nguy cơ diễn tiến các biến chứng nặng của bệnh nếu chủ động trong việc bảo vệ gan thông qua kiểm soát tế bào Kupffer hạn chế phóng ra các chất gây viêm làm hoại tử tế bào gan.

Nhưng có 10 - 20% người bị viêm gan B mãn tính diễn tiến nặng thành xơ gan và ung thư gan nếu không được điều trị sớm, cũng như không chủ động chăm sóc, bảo vệ gan.

Đó là do trong các chất gây viêm do tế bào Kupffer sản sinh ra có TGF-β, yếu tố kích hoạt tế bào hình sao sản sinh mô sợi. Các chất xơ tạo ra ngày càng nhiều gây tổn thương và làm chết tế bào gan, thay đổi hoàn toàn cấu trúc của gan, hình thành các mô sẹo, các nốt gan bất thường, làm cho gan chai cứng dần, không có khả năng phục hồi. Xơ gan được xem là yếu tố gây ung thư gan.

Điều này lý giải vì sao HBV là nguyên nhân chính gây ra viêm gan B nhưng đồng thời cũng là “thủ phạm” giấu mặt của 5-10% bệnh hoại gan mãn tính (xơ gan, suy gan) và 10-15% ung thư gan.

Hàng năm trên thế giới có khoảng hơn 1 triệu người tử vong do biến chứng của viêm gan virus B mãn tính, đó là xơ gan, ung thư gan. Xơ gan là không thể phục hồi, còn ung thư gan có tỉ lệ tử vong cao 50% - 70% trong 5 năm.


VI. Phương pháp điều trị viêm gan siêu vi B

Ngày nay, với tiến bộ của y học, viêm gan B đã và đang được điều trị rất tốt. Không phải trường hợp viêm gan B nào cũng cần dùng thuốc điều trị, tùy từng trường hợp và cơ địa của bệnh nhân, bác sĩ cho những phác đồ điều trị riêng.

Giai đoạn cấp tính (diễn tiến bệnh < 6 tháng)

Chủ yếu là điều trị hỗ trợ: 

● Nghỉ ngơi tuyệt đối trong thời kỳ có triệu chứng lâm sàng.

● Hạn chế ăn chất béo, kiêng rượu bia, tránh sử dụng các thuốc chuyển hóa qua gan.

● Xem xét nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch nếu cần thiết.

● Có thể sử dụng các thuốc bổ trợ gan.

● Riêng đối với thể viêm gan tối cấp: Cần điều trị hồi sức nội khoa tích cực. Có thể cân nhắc sử dụng thuốc kháng vi rút đường uống

Giai đoạn mãn tính (diễn tiến bệnh > 6 tháng)

Khi bước sang giai đoạn mãn tính, tùy từng trường hợp, bệnh nhân  có thể có chỉ định dùng thuốc. Thuốc điều trị viêm gan B mãn tính nhằm mục đích tác động lên hệ thống miễn dịch của cơ thể đối với kháng nguyên của HBV trên bề mặt tế bào gan và ức chế sự nhân lên của virus, ngăn cản nhiễm virus lên các tế bào gan bình thường. 

Trong quá trình điều trị, cần tuân thủ theo phác đồ của bác sĩ, để tránh tình trạng kháng thuốc phải thay đổi phác đồ điều trị rất tốn kém và phức tạp.


Để việc điều trị đạt được hiệu quả tốt nhất, bệnh nhân cần tuân thủ phác đồ điều trị để có thể kiểm soát diễn biến của bệnh, đồng thời phòng ngừa lây nhiễm sang cho người khác. Tuyệt đối không tự ý mua thuốc hoặc điều trị theo lời truyền miệng hoặc dùng các bài thuốc dân gian, thuốc Đông Y chưa được kiểm chứng. Nếu điều trị tốt, người mắc viêm gan B mãn tính có thể hạn chế được các biến chứng nguy hiểm. 

VII. Phòng ngừa viêm gan B

Viêm gan B là căn bệnh nguy hiểm, dễ lây lan. Để phòng ngừa viêm gan B, trước hết cần tiêm phòng vacxin viêm gan B đầy đủ và sớm nhất. 

● Với trẻ sơ sinh có mẹ không bị viêm gan B tốt nhất là tiêm vacxin trong vòng 24 giờ sau khi sinh. Với trẻ sơ sinh có mẹ bị nhiễm viêm gan B, ngoài một mũi vaccin ngừa viêm gan B thông thường, bé cần được tiêm 2 mũi kháng thể (huyết thanh) ngay trong vòng 2 giờ đầu sau sinh để trung hòa kháng nguyên lây truyền từ mẹ qua.

● Với thanh thiếu niên và người lớn, cần xét nghiệm máu trước khi tiêm để xem đã bị nhiễm viêm gan B chưa. Nếu chưa nhiễm và/hoặc chưa có kháng thể kháng virus viêm gan B thì cần tiêm phòng ngay để bảo vệ cho bản thân mình.

Tuy nhiên, vẫn có tỷ lệ khoảng 2,5- 5% số người sau tiêm phòng viêm gan B vẫn bị mắc bệnh. Những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của vaccin như: không tuân thủ phác đồ chích ngừa về số lượng mũi chích và thời gian chích, người suy giảm miễn dịch, người đang trong giai đoạn “cửa sổ” nhiễm virus, hiệu giá kháng thể sau chích ngừa giảm theo thời gian nhưng không biết để chích nhắc lại, hoặc thậm chí là do giảm chất lượng vaccin do bảo quản không đúng cách hoặc quá hạn sử dụng.  

Nhằm phòng tránh lây lan trong cộng đồng thì việc kiểm soát đường lây nhiễm vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong phòng bệnh khi chung sống trong gia đình với người nhiễm virus viêm gan B . Cụ thể, không dùng chung bơm, kim tiêm và các vật dụng cá nhân như bàn chải răng, dao cạo, đồ cắt móng tay…,tránh tiếp xúc với máu của người bệnh khi da hoặc niêm mạc bị trầy sướt., tránh những hành vi tình dục có nguy cơ cao gây chảy máu và tránh giao hợp khi hành kinh,sử dụng bao cao su đúng cách khi quan hệ tình dục. Đồng thời cần chủ động bảo vệ gan từ gốc bằng cách kiểm soát tế bào Kupffer, hạn chế sinh ra các chất gây viêm hại gan.


 

Nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ sinh học phân tử tại Đức và Nhật chứng minh, sử dụng tinh chất Wasabia (tên khoa học đầy đủ là Wasabia Japonica, chứa hoạt chất Isothiocyanates) và S. Marianum (chứa hoạt chất Silibinin đặc hiệu cho sức khỏe gan, mật) giúp kiểm soát tế bào Kupffer hoạt động quá mức, giảm các chất gây viêm TNF-α, TGF-β và Interleukin. Điều này góp phần làm chậm quá trình viêm và tổn thương gan, kìm hãm quá trình sản xuất các thành phần mô sợi nên tránh gan xơ hóa. 

Vì thế, không chỉ với người chưa bị nhiễm virus viêm gan B, mà với bệnh nhân viêm gan B cũng nên bổ sung tinh chất Wasabia và S. Marianum để nâng cao hiệu quả điều trị, cũng như phòng ngừa viêm gan B diễn tiến thành xơ gan và ung thư gan (10 - 20% người bị viêm gan B tiến triển thành xơ gan và ung thư gan).

Đồng thời, Wasabia và S. Marianum còn kích hoạt chất Nrf2 - yếu tố bảo vệ cơ thể quan trọng và toàn diện, thúc đẩy quá trình khử độc trong gan, kiểm soát tế bào Kupffer, bảo vệ gan và tái tạo các tế bào gan bị hư.

Kiểm soát tế bào Kupffer, dự phòng hiệu quả các bệnh lý gan nguy hiểm