banner

Tìm hiểu chung về suy giảm trí nhớ - bệnh không của riêng ai

Nằm trong nhóm bệnh lý thoái hóa thần kinh, suy giảm trí nhớ được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhận định là cuộc khủng hoảng sức khỏe nghiêm trọng của thế kỷ 21. Suy giảm trí nhớ không phải chỉ là bệnh của người già mà đang ngày càng trẻ hóa. Hiện có khoảng 20-30% người trẻ tuổi gặp các vấn đề về trí nhớ.

I.Triệu chứng

Quên không đậy nắp bình xăng khi đổ xăng, gửi email khi không đính kèm file, không nhớ đã khóa cửa khi đi làm hay chưa, đi chợ quên những thứ cần mua…là những triệu chứng thường gặp khi bị suy giảm trí nhớ.

Việc đãng trí, hay quên, kém tập trung, giảm khả năng tư duy, nhận thức hiện nay không chỉ gặp ở người già mà còn đang ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc của nhiều người trẻ.

Vì thế, bạn không nên xem thường những triệu chứng trên. Tất cả những dấu hiệu như hay quên, đãng trí đều phản ảnh tình trạng trí nhớ đang suy giảm.


II. Nguyên nhân và đối tượng thường mắc

Có thể nói, suy giảm trí nhớ có thể gặp ở tất cả mọi đối tượng từ giới nhân viên văn phòng đến các đối tượng học sinh, sinh viên. Vậy đâu là nguyên nhân gây suy giảm trí nhớ?

1.Thoái hóa thần kinh sau tuổi 25

Não bộ có khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh và liên kết với nhau bởi 1000 tỷ khớp thần kinh (synape). Từ 25 tuổi trở đi, các tế bào thần kinh bắt đầu bị thoái hóa và mỗi ngày mất khoảng 3000 tế bào quan trọng này.

2. Căng thẳng - stress trong công việc ở giới văn phòng

Bên cạnh nguyên nhân thoái hóa do tuổi tác, có một số yếu tố khách cũng góp phần làm trí nhớ suy giảm.

Cho đến nay, gốc tự do (free radical) đã được các nhà khoa học nghiên cứu và công nhận là “kẻ thù” của trí nhớ. Tính chất công việc ở giới văn phòng thường có khuynh hướng làm gốc tự do sản sinh nhiều hơn do thói quen ít vận động, căng thẳng do công việc, chế độ ăn không được quan tâm khoa học… Chính vì vậy, dễ hiểu tại sao giới văn phòng lại bị suy giảm trí nhớ từ rất sớm.

3. Áp lực bài vở ở học sinh – sinh viên

Việc não và các cơ quan trong cơ thể phải “lao động” hết công suất và những căng thẳng, lo âu kéo dài của sĩ tử làm sản sinh vô số gốc tự do (Free Radical). Chúng tấn công vào tế bào thần kinh làm tổn thương cấu trúc vốn rất chặt chẽ của mạng lưới tế bào thần kinh. Từ đó, các tế bào thần kinh dần thoái hóa khiến chức năng của não bộ suy giảm nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến vùng ghi nhớ, khiến khả năng học tập, tư duy trì trệ.


4. Các yếu tố khác

Một số yếu tố khác góp phần gây suy giảm trí nhớ có thể kể tên là dinh dưỡng, ô nghiễm môi trường, khói bụi, ánh nắng, thuốc lá, rượu bia chấn thương, nhiễm trùng, nhiễm chất phóng xạ…

III. Hậu quả của suy giảm trí nhớ

1.  Hiệu quả công việc, học tập giảm sút

Suy giảm trí nhớ gây ảnh hưởng rất rõ ràng đến hiệu quả và chất lượng công việc do giảm khả năng tư duy, tập trung và xử lý công việc kém. Chứng hay quên thường dẫn đến nhiều sai sót không đáng có. Trong đó, một số sai sót có thế gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản.


Ở đối tượng sinh viên – học sinh, áp lực bài vở nhất là vào những mùa thi làm cho đầu óc giảm khả năng ghi nhớ và tiếp thu ảnh hưởng đến kết quả học tập.

2. Sa sút trí tuệ

Khoảng 50% số người suy giảm trí nhớ sẽ chuyển thành bệnh sa sút trí tuệ sau 3 năm với các biểu hiện như: giảm trí nhớ, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn vận động, mất khả năng nhận biết đồ vật…

Bệnh diễn tiến xấu dần và người bệnh sẽ mất các khả năng tư duy cũng như tự chăm sóc cá nhân và cuối cùng dẫn đến tử vong. Không những gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, sa sút trí tuệ còn còn gây ảnh hưởng đến gia đình và toàn xã hội.

3. Gây teo não, tổn thương chất trắng, sang thương mạch máu...

Quá trình suy giảm trí nhớ phát triển thành bệnh lý sa sút trí tuệ gây ra những tổn hại nghiêm trọng và rất khó phục hồi như như teo não, tổn thương chất trắng, sang thương mạch máu, giãn não thất trong MRI não.

4. Alzheimer

Theo các chuyên gia y tế, khoảng 10% trường hợp suy giảm trí nhớ sẽ chuyển thành Alzheimer dưới tác động của Amyloid Beta - một loại protein gây ra bệnh Alzheimer có nhiều ở người bị suy giảm trí nhớ.

Alzheimer là bệnh lý tiêu biểu nhất của sa sút trí tuệ (chiếm 70-80% trường hợp). Trung bình người mắc bệnh Alzheimer tử vong sau 8-10 năm. Cho đến nay, bệnh alzheimer không có cách chữa trị hoàn toàn mà chỉ có thể làm chậm tiến trình của căn bệnh này.


5. Parkinson

Ở giai đoạn sớm, người bệnh thường gặp tình trạng mệt mỏi, suy giảm nhận thức, rối loạn chữ viết…

Đây là bệnh lý do thoái hóa các tế bào thần kinh ở vùng chất đen làm giảm sản xuất các chất dẫn truyền và ảnh hưởng đến sự điều hòa hoạt động của cơ thể gây ra các triệu chứng điển hình như run, cứng cơ, chậm chạp và rối loạn tư thế.

IV. Điều trị - Biện pháp khắc phục

Việc điều trị suy giảm trí nhớ bao gồm nhiều khía cạnh như: điều trị nguyên nhân thực thể, điều chỉnh các vấn đề tâm lý, thay đổi lối sống sinh học, dinh dưỡng, loại bỏ yếu tố nguy cơ. Trong đó, loại bỏ yếu tố nguy cơ có nghĩa rất quan trọng nhằm mục đích kiểm soát bệnh tiến triển vừa có ý nghĩa phòng ngừa rất lớn.

1. Thay đổi lối sống

Sống có trật tự và sắp xếp công việc rõ ràng, không ôm đồm; loại bỏ cách áp lực, lo âu trong cuộc sống. Nên dành thời gian nghỉ ngơi, thư giãn; hạn chế dùng các chất kích thích và tập thể dục giúp não khỏe mạnh.

2. Tăng cường, rèn luyện tư duy

Để tình trạng suy giảm trí nhớ không đến sớm, nên thường xuyên duy trì hoạt động ghi nhớ, tư duy của não. Các nghiên cứu khoa học đã cho thấy, những người làm việc trí óc thường xuyên thì sẽ giảm được 50% nguy cơ mắc bệnh Alzheimer so với những người ít làm việc bằng trí óc.

Ngoài ra, để phòng tránh suy giảm trí nhớ, cần thường xuyên thực hiện những hoạt động giúp động não như giải ô chữ, tính nhẩm, đọc sách. Các hình thức nghe nhạc, tham gia hoạt động xã hội, cộng đồng... cũng giúp tăng cường trí nhớ và duy trì sự năng động cho não.

3. Dinh dưỡng

Về mặt dinh dưỡng, cần bổ sung các chất chống gốc tự do từ các loại rau củ thiên nhiên và không hút thuốc, nghiện rượu cũng như cân đối hạn chế thực phẩm giàu chất béo, đường… 

4. Giải pháp chống gốc tự do – phòng ngừa và kiểm soát suy giảm trí nhớ từ gốc

Như đã đề cập, để dự phòng và kiểm soát tốt chứng suy giảm trí nhớ cần phải loại bỏ các yếu tố nguy cơ như gốc tự do gây hại. Nghiên cứu đã chứng minh, bổ sung các chống gốc tự do thiên nhiên có tác dụng ngăn chặn những đợt tấn công của độc chất này lên các tế bào thần kinh, phục hồi các chức năng của não, từ đó giúp cải thiện trí nhớ.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, hoạt chất sinh học thiên nhiên từ Blueberry (xuất xứ từ vùng Bắc Mỹ) đã được chứng minh có tác dụng trung hòa, chống gốc tự do rất cao. Blueberry chứa nhiều hoạt chất sinh học bổ dưỡng cho não, giúp phục hồi các chức năng của bộ chỉ huy thông tin để việc ghi nhớ diễn ra trơn tru, cải thiện đáng kể suy giảm trí nhớ.

Kết quả nghiên cứu lâm sàng được thực hiện tại Đại học Cincinati, Hoa Kỳ, năm 2010 nhận định Blueberry là một phương pháp ngăn chặn và giảm thiểu thoái hóa thần kinh qua đó cải thiện khả năng nhớ trong 3 tháng sử dụng,


Khánh Linh